Chao mung ngay 30-4 va 01-5

duoc nghi toi 6 ngay dip 304 va 15

Áp dụng một số quy định mới của Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bắt đầu từ ngày 01/01/2021

Ts Nguyễn Thị Hồng Thúy,

Trưởng Khoa, Trường Cán bộ Thanh tra

Vi phạm hành chính là loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến trong đời sống xã hội. Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội của nó thấp hơn so với tội phạm nhưng vi phạm hành chính là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tập thể, lợi ích của cá nhân cũng như lợi ích chung của toàn thể cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm tội nảy sinh trên các lĩnh vực của đời sống xã hội nếu như không được ngăn chặn và xử lý kịp thời. Các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính luôn được điều chỉnh, bổ sung cho kịp thời, phù hợp với sự vận động và phát triển của xã hội.

Báo cáo tổng kết thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính 2005 (Sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) đã nhận định: Sau 05 năm triển khai thi hành, một số quy định không còn phù hợp thực tiễn, dẫn đến khó khăn, vướng mắc khi áp dụng, cụ thể như: Thiếu một số chức danh có thẩm quyền xử phạt do cơ cấu tổ chức của một số cơ quan có sự thay đổi hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Một số quy định về thẩm quyền xử phạt chưa thực sự phù hợp như thẩm quyền xử phạt tiền của cấp cơ sở còn thấp trong khi mức phạt đối với đa số hành vi vi phạm hành chính tương đối cao hay thẩm quyền tịch thu tang vật, vi phạm hành chính bị giới hạn bởi thẩm quyền phạt tiền dẫn đến tình trạng dồn vụ, việc lên cấp trên, hiệu quả thi hành quyết định xử phạt còn thấp, thủ tục, hình thức xử phạt cần điều chỉnh cho phù hợp thực tiễn. Do vậy, đòi hỏi phải có sự điều chỉnh, bổ sung quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, theo hướng cụ thể, đầy đủ, toàn diện hơn nhằm đáp ứng kịp thời và hiệu quả yêu cầu quản lý nhà nước.

Trước yêu cầu và đòi hỏi đó, ngày 13/11/2020, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020 (sau đây gọi tắt là Luật XLVPHC sửa đổi) với 92,53% đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2022.

Bao gồm những điểm mới cơ bản sau:

Thứ nhất, bổ sung khái niệm tái phạm, quy định tại Khoản 5, Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi.

Để áp dụng thống nhất với Bộ Luật Hình sự. Luật XLVPHC sửa đổi đã quy định: Tái phạm là việc cá nhân, tổ chức đã bị ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng chưa hết thời hạn hiệu lực của quyết định mà lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính mới.

Thứ hai, quy định rõ hơn về nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính

Để khắc phục khó khăn trong việc áp dụng quy định “vi phạm hành chính nhiều lần”, khi vừa quy định là tình tiết tăng nặng, vừa quy định bị xử phạt về từng hành vi vi phạm trong các Nghị định quy định về xử phạt trong từng lĩnh vực (trong khi nhiều Nghị định không quy định rõ hành vi này) của Luật XLVPHC hiện hành. Do vậy, Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, đã quy định rõ hơn việc áp dụng nguyên tắc này, theo đó: Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, trừ trường hợp vi phạm hành chính nhiều lần được Chính phủ quy định áp dụng tình tiết tăng nặng (Khoản 2, Điều 1 Luật XLVPHC sửa đổi).

Thứ ba, sửa đổi mức phạt tiền tối đa một số lĩnh vực

Để tăng tính răn đe, và đáp ứng yêu cầu của thực tế, Luật XLVPHC sửa đổi đã tăng mức phạt tiền tối đa của nhiều lĩnh vực như: Giao thông đường bộ, phòng chống tệ nạn xã hội (tăng từ 40 triệu lên 75 triệu đồng); Cơ yếu, Giáo dục; Quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia (tăng từ 50 triệu đồng lên 75 triệu đồng); Điện lực (tăng từ 50 triệu đồng lên 100 triệu đồng); Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (tăng từ 100 triệu lên 200 triệu đồng); Báo chí (tăng từ 100 triệu đồng lên 250 triệu đồng); Kinh doanh bất động sản (tăng từ 150 triệu lên 500 triệu đồng). 

Bổ sung quy định mức phạt tiền tối đa trong một số lĩnh vực mới chưa được Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành quy định, như lĩnh vực an ninh mạng, an toàn thông tin mạng; mức phạt tiền tối đa trong hoạt động kiểm toán nhà nước, để thống nhất với quy định của pháp luật chuyên ngành.

Bên cạnh đó, quy định về mức phạt tối đa trong hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp và hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh đã được lược bỏ vì kinh doanh theo phương thức đa cấp là một hình thức kinh doanh thuộc lĩnh vực thương mại đã được quy định mức phạt tiền tối đa là 100 triệu đồng (sửa đổi bổ sung Điểm đ, Khoản 1, Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính); hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh thuộc lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội đã được quy định mức phạt tiền tối đa là 40 triệu đồng (sửa đổi, bổ sung Điểm b, Khoản 1, Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính).

Thứ tư, bổ sung một số chức danh có thẩm quyền xử phạt

Luật XLVPHC sửa đổi đã bổ sung thêm nhiều chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính để phù hợp với sự thay đổi, điều chỉnh về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, bảo đảm tính đầy đủ, tính thống nhất, tránh chồng chéo.

Cụ thể, Luật XLVPHC sửa đổi đã bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Kiểm toán nhà nước, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Tổng Cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự, Trưởng Công an cửa khẩu Cảng hàng không quốc tế, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Cảnh sát cơ động, Thủy đoàn trưởng, Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Đội trưởng Đội đặc nhiệm Phòng chống ma túy và tội phạm thuộc Bộ đội Biên phòng…

Luật XLVPHC sửa đổi cũng đã bổ sung thêm 08 nhóm chức danh (chủ yếu thuộc các cơ quan được tổ chức theo ngành dọc ở cấp tỉnh hoặc liên tỉnh) có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính không phụ thuộc vào giá trị tang vật, phương tiện; các chức danh khác có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện có giá trị không vượt quá 02 lần mức tiền phạt theo thẩm quyền.

Thứ năm, thay đổi thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính và thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính:

Luật quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp gồm: Vi phạm hành chính về kế toán; hóa đơn; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; thủy sản; lâm nghiệp; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm.

Như vậy thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa đơn tăng lên 2 năm, đồng thời quy định rõ các vi phạm hành chính về thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. Bổ sung quy định về việc tính thời hiệu trong trường hợp cá nhân cố tình trốn tránh, cản trở việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Về thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính được điều chỉnh, được quy định rõ hơn, chia thành các trường hợp với quy định thơi hạn khác nhau để đảm bảo tính phù hợp vơi thực tế trong quá trình áp dụng, cụ thể như sau:

- Đối với vụ việc thông thường, thời hạn ra quyết định xử phạt là 07 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính; vụ việc thuộc trường hợp phải chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 10 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính;

- Đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình hoặc phải xác định giá trị tang vật, phương tiện, giám định, kiểm nghiệm, kiểm định, xét nghiệm hoặc phải xác minh các tình tiết có liên quan thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 01 tháng, kể từ ngày lập biên bản;

- Đối với vụ việc thuộc trường hợp phải giải trình hoặc xác định giá trị tang vật… mà đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp, cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 02 tháng, kể từ ngày lập biên bản.

Thứ sáu, sửa đổi, bổ sung quy định về hoãn, miễn, giảm tiền phạt

Luật XLVPHC sửa đổi đã bổ sung quy định về hoãn tiền phạt đối với tổ chức bị phạt tiền từ 100 triệu đồng trở lên và đang gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh thay vì chỉ áp dụng hoãn tiền phạt đối với cá nhân ở Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành.

Bên cạnh đó, Luật cũng sửa đổi quy định về số tiền được hoãn thi hành áp dụng cho cá nhân theo xu hướng giảm số tiền được hoãn phạt từ 3 triệu đồng trở lên ở Luật hiện hành, xuống còn 2 triệu đồng trở lên đối với những cá nhân đang gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo (Khoản 37, Điều 1- sửa đổi, bổ sung Khoản 1, Điều 76 Luật Xử lý vi phạm hành chính).

Ngoài ra, Luật sửa đổi cũng bổ sung quy định về giảm, miễn tiền phạt cho tổ chức tại Khoản 38, Điều 1- sửa đổi, bổ sung Điều 77 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Việc sửa đổi những quy định như trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho không chỉ cá nhân mà cả các tổ chức thi hành quyết định xử phạt trong trường hợp họ gặp khó khăn về kinh tế do những sự kiện đột xuất, bất ngờ như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, tai nạn mà không phải là chính sách xã hội.

Thứ bẩy, bổ sung trường hợp tạm giữ người theo thủ tục hành chính

Khoản 61, Điều 1 Luật XLVPHC sửa đổi đã bổ sung 04 trường hợp tạm giữ người trong khi Điều 122 Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành chỉ quy định 01 trường hợp. Các trường hợp tạm giữ người bao gồm:

- Cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác;

- Cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới;

- Để thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

- Người có hành vi bạo lực gia đình vi phạm quyết định cấm tiếp xúc theo quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình;

- Để xác định tình trạng nghiện ma túy đối với người sử dụng trái phép chất ma túy.

Thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính không quá 12 giờ; trong trường hợp cần thiết, thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không quá 24 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm; trường hợp tạm giữ người vi phạm hành chính ở khu vực biên giới hoặc vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo thì thời hạn tạm giữ được tính từ thời điểm người vi phạm được áp giải đến nơi tạm giữ.

Đối với trường hợp tạm giữ để xác định tình trạng nghiện ma túy thì thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không quá 05 ngày, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính nhằm tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, trình tự, thủ tục trong pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và khắc phục tối đa những hạn chế, bất cập trong các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính; góp phần bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trên thực tế, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội. Để thi hành Luật sửa đổi, Chính phủ, các Bộ, ngành cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới nhiều Nghị định, Thông tư quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính. Do vậy, Luật sửa đổi có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2022, thay vì như phương án đề xuất ban đầu là từ ngày 1/7/2020 nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan có thời gian rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật./.