Luật Tố cáo năm 2018 và Nghị định 31/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo năm 2018 đã có quy định cụ thể về việc tố cáo tiếp, việc giải quyết đối với tố cáo tiếp như sau: Tại Điểm d Khoản 1 Điều 9 Luật Tố cáo năm 2018 quy định: “Tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo chưa được giải quyết”.

Điều 37 Luật Tố cáo năm 2018 đã quy định cụ thể về thời hạn, trách nhiệm, trình tự thủ tục việc tố cáo tiếp và giải quyết lại vụ việc tố cáo. Các quy định này, ngoài tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền trong giải quyết tố cáo, có vai trò hỗ trợ cho người tố cáo nắm được các căn cứ liên quan đến việc tố cáo tiếp để cân nhắc khi tiếp tục tố cáo, tránh tình trạng do hiểu biết chưa đúng hoặc nắm thông tin về vụ việc không đầy đủ mà tố cáo tràn lan, vượt cấp gây khó khăn cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc tiếp nhận và giải quyết tố cáo. Cụ thể:

Thứ nhất, trường hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo là không đúng quy định của pháp luật thì người tố cáo có quyền tố cáo tiếp với người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của người đã giải quyết tố cáo.

Thứ hai, trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố cáo tiếp, người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của người đã giải quyết tố cáo phải xem xét hồ sơ giải quyết vụ việc tố cáo trước đó; trường hợp cần thiết, làm việc trực tiếp với người tố cáo về nội dung tố cáo tiếp, thu thập thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan để quyết định xử lý đối với tố cáo tiếp.

Việc xử lý được thực hiện như sau:

(i) Trường hợp việc giải quyết tố cáo trước đó là đúng quy định của pháp luật thì không giải quyết lại vụ việc tố cáo, đồng thời, thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người tố cáo về việc không giải quyết lại;

(ii) Trường hợp việc giải quyết tố cáo trước đó là không đúng thẩm quyền thì tiến hành giải quyết tố cáo theo thẩm quyền hoặc chuyển tố cáo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo;

(iii) Trường hợp việc giải quyết tố cáo trước đó có một trong các căn cứ (quy định tại mục Thứ ba) thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp giải quyết lại vụ việc tố cáo theo thời hạn, trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo quy định tại Luật Tố cáo năm 2018.

Thứ ba, việc giải quyết lại vụ việc tố cáo được thực hiện khi có một trong các căn cứ sau đây:

Một là, kết quả xác minh hoặc kết luận nội dung tố cáo thiếu chính xác hoặc thiếu khách quan;

Hai là, bỏ sót, bỏ lọt thông tin, tài liệu, chứng cứ quan trọng trong khi xác minh hoặc kết luận nội dung tố cáo;

Ba là, áp dụng không đúng pháp luật trong quá trình xác minh hoặc kết luận nội dung tố cáo.

Một vấn đề quan trọng trong việc xem xét, giải quyết tố cáo tiếp là sự quan tâm và trách nhiệm của cơ quan (cá nhân) tham mưu cho người có thẩm quyền xem xét xử lý tố cáo tiếp. Khi thực hiện tham mưu, cơ quan (cá nhân) được giao nhiệm vụ kiểm tra, rà soát kết quả giải quyết tố cáo trước, ngoài các quy định nêu trên cần kiểm tra, rà soát việc ban hành quyết định thụ lý tố cáo, việc thành lập Tổ xác minh tố cáo, việc xây dựng và thực hiện kế hoạch xác minh (có đầy đủ nội dung tố cáo, có đúng kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt…); đối chiếu chứng cứ, phân tích, đánh giá tính xác thực của thông tin, tài liệu và căn cứ pháp luật người giải quyết tố cáo trước đưa ra kết luận nội dung tố cáo… để việc tham mưu khách quan, chính xác, trung thực hoặc việc ban hành văn bản trả lời hay giải quyết có căn cứ và tính thuyết phục cao. Đồng thời, Chánh Thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ, Chánh Thanh tra cấp tỉnh, Chánh Thanh tra sở, Chánh Thanh tra cấp huyện tăng cường trách nhiệm trong việc: “Xem xét việc giải quyết tố cáo mà người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp dưới trực tiếp của cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp đã giải quyết nhưng có dấu hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo có vi phạm pháp luật thì kiến nghị người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp xem xét, giải quyết lại” (Điểm b Khoản 1 Điều 32 Luật Tố cáo năm 2018).

Bên cạnh đó, để đảm bảo thực hiện quyền của người tố cáo, tránh tình trạng không có thông tin hoặc thông tin không đầy đủ dẫn đến người tố cáo không nắm rõ được bản chất sự việc, không có thông tin mà tiếp tục tố cáo, người giải quyết tố cáo phải thông báo về kết luận nội dung tố cáo đến người tố cáo (Khoản 3 Điều 35 Luật Tố cáo năm 2018) và cơ quan cấp trên trực tiếp (là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo tiếp nếu người tố cáo tố cáo tiếp). Thực hiện nghiêm việc công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo.

Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về tố cáo tiếp và giải quyết tố cáo tiếp:

Một là: Cần có quy định cụ thể về đơn tố cáo tiếp phải có những nội dung cơ bản nào? Tài liệu, bằng chứng kèm theo đơn như: kết luận nội dung tố cáo, những căn cứ, chứng cứ thể hiện việc giải quyết tố cáo không đúng pháp luật hoặc chứng cứ thể hiện đã quá thời hạn mà chưa giải quyết vụ việc hoặc chưa giải quyết xong vụ việc…

Hai là: Để tránh tình trạng: vụ việc tố cáo đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết đúng pháp luật nhưng người tố cáo vẫn cố tình tố cáo tiếp, tố cáo nhiều lần, sai sự thật làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của người khác. Cần có chế tài xử lý đối với những người tố cáo tiếp cố tình tố cáo sai sự thật, tố cáo nhiều lần như: Xử phạt vi phạm hành chính hoặc chịu trách nhiệm hình sự… nếu cố tình vu khống.

Trên đây là một số nội dung nghiên cứu, trao đổi về tố cáo tiếp và giải quyết tố cáo tiếp./.

Ths Phạm Hồng Lương, Phó Trưởng khoa NV2