Triển khai Đoàn thanh tra từ lúc có quyết định thanh tra đến kết thúc thanh tra, ra báo cáo kết quả thanh tra và kết luận thanh tra thực hiện theo trình tự, thủ tục (Thông tư 05/2014/TT-TTCP ngày 16/10/2014 của Thanh tra Chính phủ đã quy định), có thể minh họa theo sơ đồ như sau:

T1

Trong thực tiễn hoạt động của Đoàn thanh tra hành chính cơ bản đều chấp hành quy định của Luật Thanh tra 2010, Nghị định 86 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra và các văn bản hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra. Việc chấp hành đó đã tạo sự thống nhất trong toàn ngành, tuân thủ pháp luật, công khai minh bạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác thanh tra.

Tuy nhiên, trong quá trình thực thi công vụ hoạt động của Đoàn thanh tra hành chính thường gặp một số vướng mắc:

1/ Thời hạn của Đoàn thanh tra (Điều 45, Luật Thanh tra 2010):

Trong thực tiễn, có những nguyên nhân khách quan tác động đến thời hạn thanh tra :

- Nguyên nhân thuộc Đoàn thanh tra:

Có trường hợp, do yêu cầu nhiệm vụ, Đoàn thanh tra cần làm rõ để có cơ sở kiến nghị xử lý đối với các đối tượng có liên quan đến nội dung thanh tra nhưng do các đối tượng này ở ngoài địa phương, nên Đoàn thanh tra phải tiến hành xác minh và làm việc ở xa. Việc xác minh này chiếm khá lớn về lực lượng và thời gian đối với thời hạn của Đoàn thanh tra và trong giai đoạn này, có những Đoàn thanh tra hoàn toàn không tác nghiệp trực tiếp tại đơn vị được thanh tra (ngoại trừ những Đoàn có bố trí các thành viên của Đoàn tiếp tục làm việc tại đơn vị). Vì thế thời gian xác minh ảnh hưởng đến thời hạn của Đoàn thanh tra.

- Nguyên nhân thuộc đối tượng thanh tra:

Thực tiễn, các Thủ trưởng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra, do yêu cầu nhiệm vụ của cơ quan cấp trên phải vắng mặt trong thời hạn nhất định như: đi họp, tập huấn hoặc triển khai kế hoạch do Bộ trưởng triệu tập; trường hợp đặc biệt người đứng đầu cơ quan, tổ chức được thanh tra lâm bệnh hoặc bị tai nạn...trong thời gian thanh tra. Những vấn đề này ảnh hưởng rất nhiều đến thời hạn thanh tra vì nó mang yếu tố khách quan do đối tượng thanh tra mang lại, nhưng qui định về thời hạn thanh tra chỉ mang tính một chiều không có chỗ mở.  

2/ Thẩm quyền hoạt động của Đoàn thanh tra hành chính địa phương đối với các cơ quan trực thuộc Trung ương là đối tượng thanh tra:

Trường hợp hay xảy ra khi cấp địa phương tổ chức triển khai những cuộc thanh tra về lĩnh vực XDCB có vốn đầu tư của địa phương nhưng do qui mô công trình phức tạp, ứng dụng kỹ thuật cao như: đối với việc thi công cầu theo phương pháp dự ứng lực, nhiệt điện v.v... nên Chủ đầu tư (địa phương) hợp đồng với các đơn vị tư vấn hoặc đơn vị thi công là các cơ quan thuộc Bộ chuyên ngành. Khi Đoàn thanh tra thực hiện theo quyết định hành chính của cấp địa phương, theo qui định của Luật các đơn vị thuộc Trung ương, không thuộc quyền quản lý của địa phương nhưng là đối tượng thanh tra, khi phát hiện các sai phạm, việc xử lý thường vướng mắc:

- Ở cấp tỉnh, Chánh thanh tra tỉnh đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh kiến nghị Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cấp trên của đơn vị được thanh tra xử lý là có phù hợp hay không? Cụ thể Chủ tịch tỉnh A kiến nghị Bộ trưởng của Bộ B xử lý kỷ luật hành chính đối với Thủ trưởng của cơ quan C thuộc Bộ B do các sai phạm phát hiện qua thanh tra, liệu có đảm bảo tính khả thi và triệt để không? Về xử lý tài chính nếu các đơn vị trên có dấu hiệu chây ỳ thì ai sẽ có thẩm quyền chế tài trong các trường hợp này?

- Tương tự, đối với cấp huyện thì sẽ giải quyết ra sao?

3/ Xác định các chủ thể “đối tượng thanh tra và đơn vị có liên quan” trong quyết định thanh tra hành chính:    

Luật Thanh tra 2010 và Nghị định hướng dẫn quy định trách nhiệm và quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Tuy nhiên trong hoạt động thực tiễn thế nào là đối tượng thanh tra và thế nào là cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, không được quy định cụ thể trong Luật, vì thế trong thực tế việc xác định cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan còn khó khăn, lúng túng.

Đối tượng thuộc phạm vi thanh tra thay đổi trong trường hợp do quan điểm Đoàn thanh tra. Ví dụ như thanh tra lĩnh vực xây dựng cơ bản có thể minh hoạ theo mô hình sau:

T2

4/ Thẩm quyền của Trưởng Đoàn thanh tra:

Luật Thanh tra 2010 và Nghị định 86 đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng Đoàn thanh tra hành chính. Một trong những thẩm quyền, đó là quyền kiến nghị. Xong thực tiễn, một số Đoàn thanh tra đã có kiến nghị cụ thể với người ra quyết định thanh tra về tạm giữ các khoản sai phạm bằng tiền của các đơn vị được thanh tra. Thủ trưởng cơ quan thanh tra cẩn trọng phải xem xét đề nghị việc tạm giữ của Đoàn thanh tra có đúng hay sai và hợp lý không? Việc xem xét các kiến nghị của Trưởng Đoàn thanh tra xảy ra trong giai đoạn kết thúc thanh tra, trong lúc kiến nghị tạm giữ của Trưởng Đoàn là trong giai đoạn thanh tra. Việc xem xét các kiến nghị của Đoàn là cần thiết, nhưng nếu cẩn trọng quá sẽ mất thời cơ nhất là khi kiến nghị tạm giữ số tiền lớn và đối tượng thanh tra cố tình chây ỳ, cố tình dây dưa trong việc thực hiện các yêu cầu của thanh tra.

Luật thanh tra quy định người ra quyết định thanh tra sẽ ký Kết luận thanh tra. Trong một số trường hợp thực tiễn việc xử lý báo cáo kết quả thanh tra trước khi ký Kết luận thanh tra, người ra quyết định thanh tra thực hiện bằng 1 trong 3 cách hoặc 2, 3 cách sau:

T3Điều này ảnh hưởng nhiều đến thời hạn thanh tra, tâm lý của Trưởng Đoàn thanh tra, do các thủ trưởng cơ quan thanh tra hoặc người ra quyết định thanh tra quá thận trọng xem xét, đánh giá lại Báo cáo kết quả thanh tra của Đoàn mới yên tâm làm căn cứ ký Kết luận thanh tra sau này.

     Trên đây là một số vướng mắc trong hoạt động của Đoàn thanh tra hành chính, rất mong nhận được sự trao đổi, đóng góp ý kiến của các đồng chí để góp phần hoàn thiện hơn về pháp luật thanh tra.

ThS. Lê Ngọc Thiều - Trưởng Khoa Nghiệp vụ Thanh tra